Danh mục
linh đạo > Các bài viết về linh đạo đan tu
  • Hình ảnh Cộng Đoàn

    (04/12/2013)

    THÀNH LẬP ĐAN VIỆN XITÔ Bài viết gốc bằng tiếng Anh của viện phụ Polycarpe Zakar: Our Common Beginnings: 900 Years ago: Commemorating the 900th Anniversary of Cistercian Beginnings (1098-1998) and 40 Years of Cistercian Life in Texas (1958-1998), Cistercian Monastery O.L. of Dallas, Irving, Texas 1998, p.8-17. Tác giả đã đọc lại và sửa đôi chỗ. Fr. M. Bảo Tịnh Ocist Mỹ Ca chuyển ngữ từ bản tiếng Pháp (trong Pour Mieux connaitre l’Ordre de Citeaux, Curie Genéralice de L’Ordre Cistercien, Rome 2001) ngày 31.03.2009 THÀNH LẬP ĐAN VIỆN XITÔ Năm 1098. viện phụ Rôbertô và 21 đan sĩ đã rời đan viện Molesme, và đến một nơi gọi là Cistercium, cách thành phố Dijon (Pháp) 20 cây số. Tại đó các ngài lập một đan viện mới. Suốt 20 năm đầu, đan viện này đã có tên rất đơn giản: Novum Monasterium (Tân Đan Viện). Theo ý kiến của nhiều người, đan viện này xuất hiện như một đáp lời cho sự kiện đời đan tu “Biển Đức” lúc đó, kể cả Molesme, suy thoái và cần phải được cải tổ. Và do vậy, theo lý thuyết này, “Dòng Xitô” xuất hiện như một “thứ cải tổ” tu trào Biển Đức. Tuy nhiên, vấn đề là không có một sự kiện lịch sử nào quá giản đơn ngắn gọn như thế, bài viết này có mục đích làm sáng tỏ vấn đề, diễn tả điều gì đã xảy ra ở Xitô trong năm 1098, và tiếp đó phân tích ý nghĩa của việc thành lập. Nếu hạn từ “Dòng” (trong ý nghĩa “Dòng tu” theo giáo luật) như được dùng hiện nay, trước hết người ta phải lưu ý rằng cách đây 900 năm, không một ai có thể nghĩ đến chuyện thành lập “Dòng Xitô”, vì một lý do rất đơn giản là vào thế kỷ XI, chưa hề có “Dòng tu” như thế (hiểu theo nghĩa một Tổng Dòng thế giới gồm rất nhiều tu viện như Dòng Xitô, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Phanxicô v.v... hiện nay), kể cả Dòng Biển Đức. Quả vậy, theo ý nghĩa chính xác, cái mà người ta gọi là “Dòng Biển Đức” cũng chỉ là một liên hiệp các Hội Dòng đan tu (do ĐGH Léon XIII thiết lập ngày 12.07.1893), ngay khi thiết lập, liên hiệp này nói rõ trong quy lệ là không có ý định lập một “Dòng” theo nghĩa giáo luật. Các tu sĩ, nam cũng như nữ, thường viết thêm 3 chữ O.S.B. (Ordinis Sancti Benedicti) liền sau tên của họ, chỉ có nghĩa là họ thuộc về một Hội Dòng sống theo tu luật của thánh Biển Đức. Vào thế kỷ XI, hạn từ “Dòng” liên hệ tới một tổ chức tu trì chỉ có ý nghĩa “lối sống” hoặc “lề luật”. ĐÔI LỜI VỀ CÁC NGUỒN SỬ LIỆU Trong nhiều thế kỷ, các sử gia đã rút ra kiến thức của họ về nguồn gốc Xitô từ hai tài liệu, hai Exordia (lịch sử khai nguyên: Exordium Magnum (Khai Nguyên Lớn) và Exordium Parvum (Khai Nguyên Nhỏ). Tài liệu thứ nhất là một tác phẩm viết về những sự kiện, những truyền thuyết và những suy tư thần học. Tên tác giả là Konrad; là một đan sĩ Clairvaux và đã hoàn thành công việc này vào những năm cuối thế kỷ XII. Khi qua đời năm 1221, ngài đang là viện phụ đan viện Eberbach. Tác phẩm thứ hai, có trước, là một sưu tập ngắn gọn hơn nhiều, tuy nhiên lại gồm những dữ kiện lịch sử đáng tin cậy hơn về nguồn gốc Xitô. Tác phẩm này có 17 chương nhỏ, và không biết ai là tác giả. Khám phá đầu tiên quan trọng của khoa sử đương đại liên quan đến nguồn gốc Xitô xảy ra vào đầu thế kỷ XX khi Tiburce Hümpfner, đan sĩ thuộc đan viện Zirc ở Hungary, đã tìm thấy tại Áo một thủ bản chứa bản văn đầy đủ của Exordium Magnum. Đan sĩ này đã có thể trình bày dựa theo tài liệu căn bản này rằng sau khi Robert được tôn thánh năm 1222 (xin thay từ phong thánh bằng tôn thánh cho hợp lý hơn), những chương trong Exordium Magnum phê bình về sự kiện Robert bỏ Xitô đều đã bị rút ra, và chỉ còn một văn bản đã bị cắt xén được lưu truyền lại trong phần lớn các danh mục. Bài công bố của Cha Hümpfner năm 1908 về những chương không được biết cho đến lúc đó, đã khiến cho các sử gia giả định rằng chắc chắn người ta có thể chờ đợi những ngạc nhiên khác nữa về thuở khai nguyên của Xitô. Và quả thực người ta đã không phải chờ đợi lâu những khám phá này. Năm 1927, một kinh sĩ ở Toulouse (Nam Pháp), trước là đan sĩ thuộc Xitô Nhặt Phép (Trappiste) tên là Robert Trilhe, khám phá được một thủ bản chứa đựng một bản tóm lược hai chương về nguồn gốc của Xitô đồng thời cũng chứa đựng bản Hiến Chương Bác Ái, là Hiến Chương đầu tiên của các đan sĩ Xitô, trong một dị bản gồm 4 chương, ngắn hơn bản đã được biết trước. Tuy nhiên một khám phá quan trọng hơn do chính Trilhe, đó là nhận ra rằng “bản tóm lược” này về Hiến Chương Bác Ái lại là bản có trước mà chưa ai biết về chính bản văn gốc. Khám phá thứ ba xảy ra vào năm 1939 ở Ljubljana (Slovénie) khi Josef Turk tìm thấy một dị bản còn có trước cả tài liệu vừa nói, mà đã bị thất lạc, và ông đặt tên cho dị bản này là Carta Caritatis Prior (Chiến Chương Bác Ái đầu tiên). Sau Thế Chiến II người ta bắt đầu cuộc tìm kiếm có hệ thống và so sánh các nguồn sử liệu, và mọi người đều thấy rõ ràng rằng tất cả những ý kiến trước đó về Exordium Parvum đều không xác thực. Cần phải có hai sửa đổi đặc biệt chủ yếu đó là: thứ nhất, bản văn này đã không được viết vào năm 1119, nhưng sau đó; thứ hai, bản văn đã không phải được soạn thảo như là một “dẫn nhập” lịch sử cho Hiến Chương Bác Ái, nhưng thực ra là bản thứ hai của một tài liệu có trước và ngắn hơn, mà Trilhe đã khám phá ra và đặt tên là Exordium Cistercii (Khai nguyên của các đan sĩ Xitô). Tiếp theo những khám phá này, các sử gia bắt đầu hiểu ra rằng Xitô cũng đã được coi như một cuộc thành lập như nhiều đan viện khác và hiểu ra rằng, để có thể trình thuật “lịch sự thật” của cuộc thành lập này, phải cân nhắc kỹ bối cảnh lịch sử của nó, bao gồm tất cả những phong trào đan tu đồng thời với nó. THỜI GIAN ĐẦU CỦA XITÔ VÀ TU LUẬT THÁNH BIỂN ĐỨC C Exordium Magnum lẫn Exordium Parvum đều nhấn mạnh rằng Xitô đã được thành lập nhằm mục đích trở về với sự “tinh tuyền” của Tu Luật Biển Đức (puritas Regulae, rectitudo Regulae). Hạn từ này có nghĩa gì vào cuối thế kỷ XI? Để hiểu được ý nghĩa, chúng ta phải nhìn qua về cách thế mà theo lịch sử, Tu Luật này đã được áp dụng trong tu trào đan tu Tây Phương lúc đó. Các Tu Luật, mà mục đích tối hậu đều là tổ chức cuộc sống đan tu để phục vụ Tin Mừng, đã được bắt đầu soạn thảo vào thế kỷ IV. Tu Luật Biển Đức, xuất hiện vào giữa thế kỷ VI, nổi bật và chiếm một vị trí ưu tuyển trong các tu luật đầu tiên. Theo Tu Luật Biển Đức, đan viện là trường phụng sự Chúa, nơi đó các đan sĩ sống trong cộng đoàn dưới một thủ lãnh là Chúa Kitô, được dẫn dắt trên con đường các huấn lệnh của Chúa. Cuộc sống của họ rất quân bình gồm Ca Ngợi Chúa (opus Dei: Thần Vụ), lectio divina (đọc sách thiêng liêng qua thực hành cầu nguyện với Lời Chúa), lao tác (labor manuum) và những sinh hoạt thường nhật khác được tổ chức cách hài hòa. Đối với các vị Sáng Lập Xitô, cũng như đối với các đan sĩ thời Trung Cổ nói chung, gương sáng cuộc sống của thánh Biển Đức có tầm quan trọng lớn. Những gì chúng ta biết được về cuộc sống của thánh nhân đều từ hạnh tích do ĐGH Grêgôriô Cả viết dưới hình thức một loạt những cuộc đàm thoại. Trong tác phẩm này, thánh Biển Đức được diễn tả như một người của Chúa (vir Dei), một người sống bởi Chúa và sống cho Chúa. Biển Đức được diễn tả qua bức họa một người đang tiếp đón dân quanh vùng, và dù không phải là linh mục, thánh nhân cũng thi hành sứ vụ dẫn đưa họ về với đức tin qua việc liên tục giảng dạy (praedicatione continua). Thánh Grêgôriô cũng viết rằng thánh Biển Đức sai các đan sĩ đến thành phố lân cận để huấn đức các nữ tu sống ở đó. Đoạn văn quan trọng nhất cho tương lai của Tu Luật là đoạn mà “Dialogues” (Những Cuộc Đàm Thoại) ghi: “Người (Biển Đức) đã viết cho các đan sĩ một Tu Luật, một tác phẩm trong sáng về cách trình bày và tuyệt diệu về phương diện điều độ (discretione praecipuam). Nhiều sử gia nghĩ rằng chính qua câu này của thánh Grêgôriô Cả mà Tu Luật của thánh Biển Đức đã chiếm chỗ quan trọng trong lịch sử Giáo Hội và trong nền văn minh Tây Phương. Tuy nhiên phải nói đến việc cần làm sáng tỏ này: Thánh Biển Đức đã không lập một Dòng tu theo ý nghĩa như sau này thánh Đaminh hay thánh Ignatiô đã làm. “Đơn thuần” ngài chỉ viết một Tu Luật, và ngay cả trong Tu Luật ngài cũng để một khoảng rộng dành cho viện phụ tùy nghi xếp đặt tổ chức đan viện của mình; điều đó cho thấy rằng thánh Biển Đức có một cái nhìn cởi mở và rất “nhân bản”, quân bình và điều độ, về đời sống đan tu. Vài thí dụ có thể giúp hiểu tinh thần của Tu Luật Biển Đức. Vào một thời mà ngay cả các Giáo Hoàng cũng không thực sự được bầu lên nhưng Giáo Hoàng đương nhiệm cắt đặt người thế vị mình (và cũng vào thời này, theo cách thực hành chung trong các đan viện, các viện phụ đến tuổi nào đó sẽ chỉ định những người thay thế mình), thánh Biển Đức đã ra quy chế viện phụ phải được chọn qua cuộc bầu phiếu. Hiển nhiên thánh Biển Đức là một nhà lập luật khá khiêm tốn. Ví dụ, sau khi đã cân nhắc kỹ càng trong việc phân chia thánh vịnh dùng cho các Giờ Kinh Phụng Vụ qua 10 chương với những hướng dẫn tỉ mỉ, ngài đã thêm: “Tuy nhiên cha lưu ý rằng nếu ai không thích cách phân phối thánh vịnh đó, hãy xếp đặt cách nào họ thấy tốt hơn” (TL 18,22). Thánh Biển Đức muốn rằng viện phụ phải chứng tỏ sự khiêm tốn như thế trong việc dẫn dắt đan viện mình. Do vậy, thánh nhân đòi buộc, đối với tất cả những vấn đề quan trọng, viện phụ phải lắng nghe ý kiến của tất cả các đan sĩ của mình, và ngài nói thêm: “Sở dĩ cha truyền phải hội ý mọi người, vì Chúa thường tỏ cho kẻ ít tuổi ý kiến hay hơn” (TL 3,3). Tu Luật lưu ý đến sự kiện là, trong cuộc sống của đan viện, mọi sự đều phải có chỗ của nó, kinh nguyện, công việc và nghỉ ngơi phải được phân chia sao cho quân bình hài hòa. Theo truyền thống ghi nhận, thánh Biển Đức qua đời năm 547, và một thời gian sau, vào năm 577, các đan sĩ của ngài bị trục xuất khỏi Mont-Cassin, và đan viện lừng danh này đã chỉ được tái tạo không trước 170 năm sau đó. Các đan sĩ phải lánh nạn ở Rôma, và do đấy người ta chấp nhận ý kiến cho rằng sau khi thánh Biển Đức qua đời, trong các đan viện ở Rôma, cuộc sống được tổ chức theo Tu Luật của ngài. Tuy nhiên những tìm kiếm mới đây đã cho thấy rằng đã không đúng như thế. Thực tế, một thời kỳ của các “tu luật hỗn hợp” đã bắt đầu sau khi thánh Biển Đức qua đời, Số đông các đan viện đã góp nhặt từ nhiều Tu Luật khác nhau, trong số đó có Tu Luật của thánh Biển Đức. Ngay cả “Những Cuộc Đàm Thoại” của thánh Grêgoriô Cả cũng nói đến việc trộn lẫn nhiều Tu Luật và các thói lệ khác nhau, đến nỗi có thể cho thấy bảo rằng thánh Grêgôriô Cả là “đan sĩ “Biển Đức cũng không có gì là chính xác. Khá lạ kỳ là chính tại Anh quốc vào đầu thế kỷ VII, lần đầu tiên Tu Luật Biển Đức trở thành tài liệu căn bản cho cuộc sống đan tu, sự kiện này có thể là qui cho những lời ca tụng của thánh Grêgôriô Cả trong “Những Cuộc Đàm Thoại” khi nói về Tu Luật. Một sự kiện khác đầy ý nghĩa liên quan đến việc rộng rãi chấp nhận Tu Luật Biển Đức đã diễn ra thời Charlemagne. Ông vua này muốn rằng cuộc sống đan tu được tổ chức trong Đế Quốc của mình phải theo Tu Luật và thói lệ chính xác như vậy. Một vị thánh Biển Đức khác, Biển Đức d’Aniane (thánh Biển Đức của chúng ta là Biển Đức de Nurcie) lúc đó đang đặt Tu Luật Biển Đức như qui chiếu qua hai tác phẩm của mình về đời sống đan tu, có tầm mức ảnh hưởng đáng nể (Codex Regularum và Concordia Regu-larum) cả hai đều dựa theo “Luật Rôma” của thánh Biển Đức. Cũng cần phải nhắc đến một yếu tố khác trong việc tổ chức cuộc sống và thói lệ biển đức: vấn đề “giáo sĩ hóa” chung của đời đan tu thời Thượng Trung Cổ. Những kinh phụng vụ bắt đầu đạt tới tầm rộng mà trước đó chưa bao giờ có, trong khi đó việc lao động (tay chân, ngày xưa hay gọi là làm việc xác!) mất dần tầm quan trọng của nó. Chính thánh Biển Đức d’Aniane đã đưa vào cái mà người ta gọi la “ba kinh” (trina oratio), nghĩa là hàng ngày đọc 15 thánh vịnh chia làm 3: 5 thánh vịnh để cầu cho kẻ sống, 5 thánh vịnh cầu cho các người quá cố nói chung và 5 thánh vịnh đặc biệt cầu cho những người vừa mới qua đời. Các đan sĩ phải đọc 15 thánh vịnh đó ngoài những kinh phụng vụ do Tu Luật ấn định và còn thêm 10 thánh vịnh phụ sau Giờ Kinh nửa đêm vào mùa đông, và 5 thánh vịnh vào mùa hè. Các phái viên của Triều nhà vua Charlemagne thám sát mỗi đan viện và áp đặt khắp nơi những thói lệ và những quy luật giống nhau. Những khuynh hướng như thế tiếp tục trong các đan viện vào thời cải tổ của Cluny thế kỷ X, “ba kinh” đồng bộ được tăng thêm thành 30 thánh vịnh (thay vì 15 thánh vịnh như trước đó). Cuối cùng Thần Vụ được đọc hằng ngày tại Cluny tăng dần đến độ mỗi ngày các đan sĩ phải đọc 215 thánh vịnh hoặc ngay cả 240 thánh vịnh. Kinh sáng tại Cluny (được gọi là Prima, hoặc “giờ thứ nhất” gồm cho riêng giờ kinh này 16 thánh vịnh. Tất cả việc tổ chức cuộc sống đan tu đã bị biến dạng trầm trọng. Chỉ kể ra một ví dụ điển hình, các viện phụ sống dưới qui chế của Cluny mất hết quyền độc lập, nhường cho một mình viện phụ của Cluny, xưng hiệu Abbas Abbatum (viện phụ của các viện phụ). Phản ứng lại sự thay đổi như thế, một phong trào mới xuất hiện tại Ý, bành trướng tới vùng Bắc. Chịu ảnh hưởng bởi phong trào này, là phong trào cổ võ cuộc sống ẩn tu và hướng mạnh về cô tịch, khó nghèo và thinh lặng, thánh Rôbertô đã lập đan viện Molesme năm 1075. Trở nên giầu có, Molesme rơi lẹ theo ảnh hưởng của Cluny, và đan viện tách dần với lý tưởng ban đầu đặt ra. Đau lòng trước sự thay đổi này, một nhóm đan sĩ bắt đầu lên kế hoạch nhắm tới việc thành lập một đan viện mới, và điều đó đã được thực hiện năm 1098. VIỆC THÀNH LẬP XITÔ THEO EXORDIUM CISTERCII VÀ EXORDIUM PARVUM Cả hai tài liệu này đều không cho biết đã được soạn thảo khi nào. Các thủ bản trong đó ghi chép lại hai bản văn này cũng khó lòng mà định được thời điểm. Thủ bản cổ nhất chép lại Exordium Cistercii đã được viết vào khoảng năm 1130, trong khi đó thủ bản cổ nhất chứa đựng Exorcium Parvum có nguồn gốc trễ hơn. Hai tài liệu này khác biệt nhau nhiều về việc xét đoán đan viện Molesme. Một đàng Exordium Cistercii, viết ra những điều sau đây có vẻ tích cực hơn: “Như chúng ta biết, trong giáo phận Langres có một đan viện, danh tiếng lẫy lừng, và đáng tôn kính nhờ các nhân đức tu trì của đan viện. Ngay từ buổi đầu, trong một thời gian ngắn, lòng Chúa nhân lành đã làm cho đan viện lừng danh bằng những ơn Ngài ban, làm cho đan viện có phẩm giá cao nhờ những con người nổi tiếng, và cũng làm cho đan viện trở nên hùng mạnh về vật chất cũng như nổi danh về nhân đức... Các ngài (các vị sáng lập Xitô) đều nhận định rằng nếu tại nơi đây người ta sống đúng đắn và thánh thiện, thì dẫu sao Tu Luật mà họ khấn giữ cũng không được tuân thủ đúng như ước muốn và quyết tâm của họ” (EC 1). Đàng khác trong bản văn của Exordium Parvum, chúng ta đọc được đoạn văn sau đây có vẻ chỉ trích mạnh hơn: “Những người này (các Đấng Sáng Lập Xitô), khi còn ở Molesme, thường nói với nhau, dưới ảnh hưởng của ơn thánh Chúa, về việc lỗi Luật các đan sĩ của Cha Biển Đức đáng kính, đã cùng luyến tiếc và buồn về điều đó; vì các vị thấy rằng chính các vị cũng như các đan sĩ khác qua lời khấn trọng thể đã khấn tuân giữ Tu Luật này, nhưng đã không giữ, và do đó đã làm cho mình thành người có tội vì thề láo, với ý thức rõ rệt...Rồi vị Viện Phụ này và các anh em mình, đã không quên lời khấn của mình, đồng lòng quyết định xếp đặt tất cả trong nơi này (Xitô) theo Tu Luật thánh Biển Đức và làm y theo Tu Luật, gạt bỏ tất cả những gì nghịch với Luật này... (EP III và XV). Trong nhiều thủ bản thiếu hai câu này với ý thức rõ rệt và vì thề láo. Nhưng, dù thiếu hai câu này, bản văn cũng cho thấy một xét đoán rất gay gắt về Molesme, trong khi Exordium Cistercii cho một cái nhìn chủ yếu khác biệt. Xét cho cùng, thì thấy rõ ràng rằng các đan sĩ lên đường tới Xitô, đã có ý định đưa Tu Luật thánh Biển Đức vào thực hành khác với ở Molesme. THỜI GIAN VÀ NƠI CHỐN THÀNH LẬP XITÔ Về vấn đề liên quan tới thời gian chính xác thành lập, Exordium Cistercii cũng như Exordium Parvum đểu chỉ nói đến năm 1098 mà không có xác định phụ gì khác. Exordium Magnum thiết định rằng việc thành lập đã xảy ra vào lễ thánh Biển Đức, ngày 21.03, và ngày này năm đó trùng vào Chúa Nhật Lễ Lá. Nhưng chắc hẳn cần phải nhớ rằng cái ngày xác định này chỉ được viết ra 100 năm sau biến cố, và ý nghĩa ẩn dụ của nó đã được cố ý nhấn mạnh trong bản văn. Bởi lẽ người ta có thể tự hỏi thành lập một đan viện một tuần lễ trước lễ Phục Sinh có thuận tiện hay không. Còn về nơi chốn xác định của việc thành lập, Exordium Cistercii diễn tả như sau: “Các ngài đến một nơi kinh khủng và hoàn toàn cô vắng. Các ngài xét thấy nơi hoang rợ này rất thích hợp cho ý định khổ chế mà các ngài đã dự kiến trong lòng các ngài” (EC I). Câu viết “một nơi kinh khủng và hoàn toàn cô vắng” là trích dẫn Kinh Thánh trong sách Đệ Nhị Luật (32,10: Gặp thấy nó giữa miền hoang địa, giữa cảnh hỗn mang đầy tiếng hú rợn rùng), do vậy cũng phải hiểu như một cách diễn tả về một lý tưởng thần học (“cuộc hành trình trải qua sa mạc” sau khi Xuất Hành), hơn là như một mô tả về địa dư. Người ta cũng gặp thấy cách mô tả khác cũng giống vậy trong Exordium Parvum: “Các ngài đầy hoan vui hướng về một nơi hoang vắng tên là Xitô, tọa lạc trong giáo phận Chalons; và vì rừng rậm đầy gai góc, nên đã chẳng có người lai vãng và chỉ là nơi ở của các thú hoang. Khi đến đó, những người của Chúa hiểu rằng nơi này thật là hợp cho đời sống tu mà các ngài đã có ý nghĩ tới và cũng vì thế mà các ngài đã đến đây, và dường như đối với người thế tục, nơi đây đáng khinh chê hơn và khó đến hơn. Các ngài chặt phá những lùm cây rậm rạp, những gai góc và dọn một khoảng trống giữa các bụi cây” (EP III). Những nguồn sử liệu cùng thời đó, cho biết rằng, mặc dù Xitô có rừng vây phủ, nhưng không phải là một nơi hoàn toàn không có người ở. Bởi vì, Bá tước Raynald, khi đó là chủ nhân của vủng đất này, cũng đã dâng hiến các đan sĩ một ngôi nhà thờ nhỏ trong lãnh địa này, và ngôi nhà thờ này chắc chắn đã được xây dựng vừa do và vừa cho chính những người sống trong nơi gần đó. Hơn nữa, ai cũng biết rằng có một con đường lớn khá đông người qua lại, và con đường này nằm gần ngay nơi đan viện hiện nay tọa lạc, và giả định theo đó cho rằng đan viện thứ nhất đã được xây dựng xa hơn về mạn Bắc cho đến nay đã không có chứng cớ gì. Do vậy rất có thể các Đấng Sáng Lập đã không bắt đầu xây đan viện mới này ở một nơi hoàn toàn hoang vắng. THÁNH ROBERTÔ, VIỆN PHỤ TIÊN KHỞI CỦA XITÔ Sinh khoảng năm 1028, gần Champagne, Rôbertô đã lập Solesme năm 1075, và khi 70 tuổi ngài dẫn 21 anh em đến Xitô, việc lập dòng mới đã được kể lại trong một bản văn viết khoảng năm 1122-23 của Guillaume de Malesbury. Theo tất cả những chỉ dẫn, cầm đầu nhóm hành động là Étienne Harding, đã là một đan sĩ Biển Đức tại Anh quốc, đến học ở Paris và, qua những cuộc hành trình đến Ý, đã tiếp cận với những phong trào đan tu trong vùng này. Bị ảnh hưởng mạnh về những gì đã thấy, Étienne bắt đầu đặt lại vấn đề về tất cả những cách sống đan tu đã không được ấn định hay nhắc tới trong Tu Luật: Ngài bắt đầu bị chao động bởi những vấn đề cấp bách liên quan đến lý do tồn tại của chúng (rationem eorum efflagitare coepit). Thái độ này dẫn đến nguyên tắc theo đó, liên quan đến những thao tác của đời sống đan tu, các ngài phải loại bỏ tất cả những gì không hợp với Tu Luật thánh Biển Đức. Dù Rôbertô là viện phụ sáng lập, chính ngay ở Xitô, cho đến thế kỷ XVII, tên của ngài vẫn không được ghi vào danh sách các viện phụ. Sự loại bỏ này cho thấy rõ ràng rằng trong số 21 bạn cùng rời Molesme với ngài, có một số đan sĩ đã cảm thấy bị tổn thương bởi vì chỉ sau 18 tháng Rôbertô đã quay trở lại với Molesme là đan viện ngài đã lập trước. Ngày nay, các đan sĩ Xitô vẫn còn nói về Rôbertô như một vị sáng lập “nửa chừng”, bởi vì ngài đã không kiên vững trong việc thành lập Xitô. Do vậy, lịch sử cá nhân của ngài vẫn còn là một bí mật cần được làm sáng tỏ. Exordium Cistercii tương đối nói khá ít về ngài, và Exordium Parvum không nói gì khác hơn là chỉ viết lại một lá thư của Hugues, khâm sai của Đức Giáo Hoàng, viết cho Tổng Giám Mục tại Langres. Chúng ta đọc được một đoạn ngắn sau đây: “Chúng tôi trao trả ngài (Rôbertô) cho Đức Ngài, để Đức Ngài đưa ngài về làm viện phụ lại ở đan viện Molesme, nhưng nếu vì sau này, tính quen nhẹ dạ (solita levitate) của ngài lại làm ngài rời bỏ đan viện này... (EP VII). Chắc chắn là, cách nói tính quen nhẹ dạ diễn tả một ý kiến tiêu cực về tính tình của Rôbertô, vì cho rằng ngài hay có những quyết định không những dễ dàng, mà nhiều khi còn vô trách nhiệm. Tác giả của Exordium Magnum cũng có ý kiến rất gay gắt vể thánh Rôbertô. Tác giả này tố cáo ngài đã để mất lòng nhiệt thành đan tu. Nhưng như đã nói trên đây, chỉ ít lâu sau khi Exordium được viết ra, Rôbertô đã được tôn thánh (như chúng tôi được biết thì các đan sĩ Xitô rất ủng hộ việc tôn thánh cho ngài), và do vậy những chương có những phán đoán tiêu cực đã bị cắt bỏ khỏi những bản chép lại sau đó. Chỉ đến năm 1908 mới xuất hiện thủ bản gốc. MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC THÀNH LẬP XITÔ Cho dù chuyện phức tạp của vấn đề này cần được bàn riêng, ở đây chúng tôi cũng xin vắn tắt bàn đến một trong những điểm lớn nhất liên quan tới việc làm (lao động) trong lược đồ đan tu. Ngày nay, để định nghĩa chương trình sống Tu Luật thánh Biển Đức người ta thường dùng thành ngữ: “Ora et labora” (cầu nguyện và lao động). Nhưng điều mà ít ai biết đến đó là thành ngữ này không có trong Tu Luật, và nó chỉ được tạo ra vào cuối thế kỷ XIX do Maurus Wolters, vị sáng lập đan viện Biển Đức ở Beuron nước Đức. Chính thánh Biển Đức nói về công việc lao động trong chương 48 của Tu Luật của ngài, luận đề căn bản của ngài là ở nhưng là kẻ thù của linh hồn. Rồi ngài thêm: Nếu vì nhu cầu địa phương hay cảnh khó nghèo đòi hỏi, anh em phải gặt hái, đừng nên buồn phiền, chỉ khi nào ta sống bằng thành quả lao động của mình như các tổ phụ và như các tông đồ, khi ấy chúng ta mới thật là đan sĩ. Nhưng dù sao, mọi sự phải giữ chừng mực, vì còn có những kẻ yếu sức (TL 48,7-9). Chắc chắn thánh Biển Đức đã biết đến huấn dụ của thánh Phaolô: “Nếu kẻ nào không muốn làm việc thì cũng đừng có ăn” (2 Th 3,11). Dẫu vậy, ngài cũng chấp nhận thói quen và ý kiến của thời đại ngài sống, đã không coi việc làm đồng áng như là việc làm thích hợp cho các đan sĩ. Bởi vì, thật thích thú khi đọc thấy điều mà Luật Sư Phụ (Regula Magistri) - được viết đồng thời và thánh Biển Đức biết cặn kẽ cũng như thường trích dẫn để viết bản luật của mình – nói về vấn đề này. Không có gì phải nghi ngờ, quan điểm của Tu Luật này phản ánh tâm thức các đan sĩ thế kỷ VI tại Ý. Theo chương 86 của Luật Sư Phụ, các đan sĩ phải cho thuê đất đai của mình để không phải bận tâm canh tác. Rồi trong một đoạn dài tiếp theo đó, hai lý luận đáng chú ý đã được khai triển thêm. Trong lý luận thứ nhất, tác giả thiết định rằng công việc đồng áng là một công việc thích hợp cho những người không thể thực hành việc thiêng liêng; trong lý luận thứ hai, các đan sĩ phải ăn chay, và vì lý do này người ta không thể bắt họ làm những công việc nặng nhọc mà việc đồng áng đòi hỏi. Nói tóm lại, trong nhãn quan thế kỷ VI, người ta đừng chờ đợi để thấy vẽ lên một “thần học về công việc lao động”, như người ta khai triển ngày nay. Quả thực, ngoài hai lý do được Luật Sư Phụ đưa ra, còn phải thêm lý do thứ ba dựa trên tâm thức xã hội có giá trị ưu tiên trong đan tu trào nguyên thủy. Bỏ lại thế gian sau mình để đến ẩn mình trong đan viện (recessus in monas-terium), trong thời Cổ Đại sau này, đó là làm theo kiểu các nhà quý tộc rút lui vào các lãnh địa đồng quê của họ. Hơn nữa, đó cũng là thói thường của tất cả các lãnh địa thời đó, các đan viện đều được tổ chức với sự giúp đỡ của các tôi tớ được trả lương theo công việc họ làm. Tiếp đến, quy chế về việc làm đã có những thay đổi đáng kể. Thánh Boniface, chẳng hạn, yêu cầu các đan sĩ của ngài phải làm việc truyền giáo, trong khi Charlemagne, trong “Qui định chung” (admonitio generalis), gửi cho các đan viện trong đế quốc của ông, đã đòi buộc mỗi đan viện phải điều khiển một trường học. Chính vì vậy vào thời Charlemagne, các đan viện đã trở thành trung tâm của một công việc về trí tuệ, và các đan sĩ được coi như những người nắm giữ gia tài văn hóa. Vào thời thánh Biển Đức d’Aniane, đời đan tu xoay quanh phụng vụ. Mối bận tâm này đã góp phần để Cluny quyết định loại bỏ trẻ em ra khỏi các đan viện của mình, cho dù các trẻ em cũng đã được nhắc đến nhiều lần trong Tu Luật Biển Đức. Vì những sinh hoạt phụng vụ càng ngày càng chiếm phần quan trọng trong ngày, không còn đủ thời giờ cho công việc lao động hoặc trí thức nghiêm túc. Khía cạnh này của cuộc sống đan tu đã được các Đấng Sáng Lập Xitô chỉnh sửa. Không những các ngài đã đưa vào việc lập ra các thầy trợ sĩ (và đồng thời cũng dùng các người thợ được trả lương), nhưng các ngài còn chờ nơi tất cả các đan sĩ góp phần quan trọng của giờ giấc mình cho công việc lao động. Để kết luận, chúng ta không phải tưởng tượng rằng trong năm 1098, cộng đoàn tiên khởi đã sống cùng một cách thế như thánh Biển Đức tại Mont-Cassin (Montecassino) vào thế kỷ VI. Xitô đã theo gương Cluny về một điểm, và loại bỏ sự hiện diện các trẻ em trong đan viện. Hơn nữa việc thiết lập các trợ sĩ ở Xitô không thể hoàn toàn đáp ứng theo tiêu chí của cuộc sống mà thánh Biển Đức đã ôm ấp. Tuy nhiên, vẫn giữ lại một số những thói lệ của thời thánh Biển Đức d’Aniane, Xitô đã đạt thành việc tái lập sự hài hòa mới giữa kinh nguyện chung, đọc sách thiêng liêng, suy niệm, và công việc lao động, và đó chính là thành quả đặc biệt trong việc canh tân đời đan tu. Các Đấng Sáng Lập Xitô có bao giờ đã nghĩ tới chuyện lập một loại Dòng tu? Rất có thể là không. Vào thời các ngài, một ý định như thế hoàn toàn không hợp tý nào. Vả lại, đơn giản là các ngài quá bận rộn lo đến cuộc sống của các ngài. ... [ Xem tiếp ...]